Người xưa chỉ có quạt bằng lá cây bồ quỳ, quạt bằng lông chim, cắt xén mà hợp lại làm thành, không thể xếp mở được.

Thơ của Ban tiếp dư có câu:

新製齊紈素 裁爲合歡扇

Tân chế Tề hoàn tố

Tài vi hợp hoan phiến

Dịch nghĩa:

Mới chế thứ lụa mịn trắng ở đất Tề,

Cắt ra làm cái quạt hợp hoan.

Dịch thơ:
Lụa Tề mới chế mịn-màng,
Cắt ra làm quạt hợp hoan để dùng.

Tưởng cũng không phải là lạ. Những điều sưu tập của sách Sơ học ký và sách Bắc đường thư sao nói về quạt đều là thể chế ấy cả. Về sau mới có quạt xếp, cũng gọi là tụ đầu phiến (quạt có những cây nan giụm đầu), bởi vì từ thời Bắc Tống mới có thứ quạt nầy.

Người Nhật Bổn cũng chế tạo thứ quạt xếp nầy, mặt có phết vàng, nan bằng tre đen, để đem nộp cống. Người xưa cho là quạt của người Đông di, thì quả như vậy.

Nước Nam ta hiện thời có những kiểu quạt như ban trúc phiến (quạt mà nan bằng tre bông), lão mai phiến (quạt mà nan bằng gỗ mai già), tông phiến (quạt bằng lá cây kè), bạch đàn phiến (quạt mà nan bằng gỗ bạch đàn), đại mội phiến (quạt mà nan bằng đồi-mồi), ngưu giác phiến (quạt mà nan bằng sừng bò).

Nan quạt có hai thứ, thứ cong và thứ ngay, lớn nhỏ đều có 22 nan, giấy thì dán hai mặt. Quạt nước Triều Tiên phất bằng giấy dầu, chỉ có một mặt. ( [*]tr 121)

(*)Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ (1995), Tạ Quang Phát dịch, NXB Văn Hóa thông tin, tập 3

 

Contact Me on Zalo