Chùa Bút Tháp (tên chữ là Ninh Phúc tự – 寧福寺) thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, có giá trị to lớn về lịch sử và văn hóa.
Ngay từ xưa, chùa đã là chốn danh thắng nổi tiếng, từng có lời ca ngợi “Chùa Ninh Phúc, xã Nhạn Tháp là một chốn thiền lâm đẹp nhất Kinh Bắc, điện vũ nguy nga, tráng lệ”[1]. Chính vì vậy mà qua bao đời, Bút Tháp là nơi được rất nhiều tao nhân mặc khách, danh sĩ hiền thần thăm viếng; lại càng có nhiều các bậc tôn quý đến trợ duyên hưng công, một trong số đó có quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ.
Dựa theo văn bia tại tháp Tôn Đức phía sau chùa Bút Tháp (tạo năm 1739) [2], Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ, tước hiệu đầy đủ là Phương Hoa Thân Trưởng Thượng Quận chúa, pháp hiệu khi đi tu là Diệu Huy, không rõ năm sinh năm mất của bà.
Thân phụ bà là Thái Úy Tấn Quốc công Trịnh Bính, thân mẫu là Huy Nhu Thuần Đức Thái tôn Thái Phi Trương Thị Ngọc Chử , theo vai vế Quận chúa Ngọc Cơ là em của An Đô Vương Trịnh Cương – vị chúa Trịnh thứ 5.
Quận chúa Ngọc Cơ cũng như các phụ nữ quý tộc khác trong lịch sử trung đại Việt Nam nói chung và vào thời Lê – Trịnh nói riêng, có lòng mộ đạo Phật, ra sức đóng góp cho các chùa chiền. Vào năm 1739, bà cùng với mẹ là Thái Tôn Thái Phi đã trợ duyên, giúp tài vật để tu sửa tòa cửu phẩm liên hoa tại chùa Bút Tháp (Hiện nay tòa cửu phẩm liên hoa này đã được công nhận là bảo vật quốc gia).
Chính vì công đức đó, mà về sau, tượng của bà đã được kính cẩn đặt trong phủ thờ của nhà chùa để thờ cùng các quý tộc khác đã có công giúp cho chùa Bút Tháp như Chính cung Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, Hoàng tử Lê Đình Tứ…
Bức tượng hậu của Quận chúa Ngọc Cơ cao 73 cm, thể hiện bà đang ngồi tĩnh tại trong tư thế tọa thiền, đầu đội mũ hỏa Phật[3], mặc áo giao lĩnh, khoác ngoài cùng là áo đối khâm, dưới mặc váy và thường.
Mặc dù rất có thể y phục của tượng đã có sự hư cấu ước lệ nhất định, do tượng hậu Phật chịu ảnh hưởng từ tôn giáo, nhưng đánh giá một cách công bằng thì trừ chiếc mũ hỏa Phật đội trên đầu tượng chưa thể có kết luận, còn lại các dạng thức trang phục khác như giao lĩnh, đối khâm, váy, thường; đều là những dạng trang phục có thật thời Lê Trung Hưng.
Tổng thể, thì bức tượng cùng với hệ thống tượng tại chùa Bút Tháp vẫn là những tác phẩm xuất sắc bậc nhất trong lịch sử điêu khắc gỗ Việt Nam. Nên bất kể tính thực tế – ước lệ của tượng ở mức độ nào, thì vẻ đẹp của tượng vẫn rất đáng để chúng tôi dùng đó làm tư liệu mà thử sức phỏng dựng phục trang.
Mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng khi phỏng dựng để đảm bảo độ chính xác lẫn tính thẩm mỹ, nhưng hẳn nhiên vẫn còn những thiếu sót và cần hoàn thiện hơn trong những phiên bản sau, rất mong quý vị lượng thứ và góp ý.
Trang phục được Vạn Thiên Y phỏng dựng dựa theo tài liệu của Trưởng phòng nghiên cứu Nguyễn Văn Hiệu và cộng sự Nguyễn Hùng.
Chú thích:
(1) Mũ trong tạo hình được bám sát nhất có thể mũ gốc của tượng. Chúng tôi tạm gọi loại mũ trên tượng là “mũ hỏa Phật”, với các đồ án chính là hỏa châu, song long, mây lửa và ở trung tâm mũ là Đức Phật ngồi trên tòa sen trong dáng tọa thiền.
(2) (3) (4) Dây buộc mũ, Áo đối khâm, thường đều được may từ loại vải dệt mà chúng tôi tạm gọi là “Liên nhiễu phù dung”. Mẫu hoa văn lẫn kích thước hoa văn của vải đều được lấy từ mẫu vải dệt thế kỷ 18, được phát hiện trong lăng mộ của quan Đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh (Khoái Châu, Hưng Yên) vào năm 1982.
Người mẫu: Coco
Studio: LUA Studio by Khanhle
Thác bản và ảnh chụp văn bia trích dẫn trong bài viết được cung cấp và dịch bởi: Nguyễn Hùng
Xin chân thành cảm ơn công ty TNHH Lụa Mã Châu (Duy Xuyên, Quảng Nam) vì đã cung cấp cho chúng tôi chất liệu vải để sử dụng cho bản phỏng dựng này.
Xin chân thành cảm ơn công ty 3Dart và kỹ sư Đinh Việt Phương, nhiếp ảnh gia Hiếu Trần đã cung cấp các ảnh chụp và bản scan 3D để hỗ trợ chúng tôi.
Chú thích:
[1] Trích từ minh văn trên tấm bia “Khánh lưu bi ký”, dựng vào niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) đặt trong chùa Bút Tháp. Thác bản bia được rập và dịch bởi Nguyễn Hùng.[2] Thác bản bia được rập và dịch bởi Nguyễn Hùng.
[3] Cách gọi mũ hỏa Phật là một cách tạm gọi mang tính trực quan của chúng tôi dựa theo việc trên mũ có hoa văn hỏa châu và hình Phật tọa thiền, do chúng tôi chưa tìm được tư liệu định danh chính xác loại mũ đội trên đầu các tượng hậu thế kỷ 17 – 18.




