Mùa xuân, tháng 8, năm Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị nguyên niên (1841), triều đình nhà Nguyễn tổ chức thi Hương trên cả nước.

Trường thi Thừa Thiên Chủ khảo là Tham tri bộ Hình Bùi Quỹ, Phó Chủ khảo là biện lý bộ Binh Trương Tiến.  Khoa này trường Thừa Thiên lấy đỗ 40 cử nhân.

Nhưng khoa thi Hương này cũng đã xảy ra một loạt các sự việc lôi thôi.

Trước hết, hai quan Sơ khảo là Cao Bá Quát và Phạm Nhạ đã ngầm lấy muội đèn làm mực rồi chữa văn bài thi của các sĩ tử gồm 24 quyển, lấy đỗ thêm được 5 người.

Sau đó cháu gọi Trương Đăng Quế bằng chú là Trương Đăng Trinh, quyển văn kì thứ 2 bị Nội trường đánh hỏng, Phán khảo Nguyễn Văn Siêu cho là văn lý có thể lấy được, nói với quan ngoại trường liệt vào hạng lấy đỗ.

Cuối cùng, khi chưa yết bảng, Chủ khảo Bùi Quỹ cho là chữ của Cao Bá Quát viết đẹp nên gọi ra ngoại trường viết bảng, rồi Văn Siêu giữ quát lại phòng mình ngủ qua đêm.

Giám sát trường vụ là Hồ Trọng Tuấn tham hặc lên là trường pháp không nghiêm. Việc được giao cho bộ Hộ và Đô sát viện nghị tội. Cao Bá Quát và Phạm Nhạ thú thực là do sính bút làm càn chứ không phải do ăn của đút mà sửa bài thi. Bộ Hình và Đô sát viện định tội Quát và Nhạ tử hình, Siêu bị phạt trượng, đồ (bắt đi lao dịch khổ sai), Chủ khảo và Giám khảo bị cách chức, giáng chức cao thấp khác nhau.

Án dâng lên, Thiệu Trị đế phán rằng: “Chọn người tài giỏi là điển lệ long trọng, bọn Quát lại dám làm trái phép như thế, khép vào tội nặng cũng đáng, song ta nghĩ: bọn Quát chữa văn đến 24 quyển, tự mình hoặc phê lấy đỗ, hoặc phê bỏ đi, cũng có chỗ câu văn chữa vào lại không bằng câu văn của người làm trước, hoặc giả do sự khờ dại mà làm ra chứ không có tình tiết gì khác. Tha cho tội xử tử, đổi tội giảo giam hậu (Giam cầm rồi thắt cổ); Siêu cho Quát ngủ ở phòng của mình tuy không có tình tiết gì, nhưng phép trường không thể hỗn tạp như thế được. Đáng lẽ ra theo lần bổ nghị mà trị tội, nhưng hãy tạm gia ân cho tội đồ mà chỉ cách chức cho gắng sức làm việc ở bộ chuộc tội. Bùi Quỹ và Trương Tấn Sĩ có lỗi vì không biết trông nom mà phát giác ra, đều cho đổi cách chức được lưu làm việc. Giám khảo Phan Văn Nhã và Trương Hảo Hợp không biết kiểm xét phát giác ra đều phải cách chức cho lưu làm việc. Quan trường đều bị giáng chức.”

Với Cao Bát, ông bị giam trong ngục 3 năm, khoảng cuối năm Quý Mão (1843), Cao Bá Quát được triều đình tạm tha, nhưng bị phát phối đi Đà Nẵng, chờ ngày đi “dương trình hiệu lực” (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội). ([*]tr 496, 497)

Nguồn dẫn:

(*) Đinh Văn Niêm, Thi cử học hàm học vị dưới các triều đại phong kiến Việt Nam (2014) NXB Lao động – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.

Contact Me on Zalo