Ngày nay, khi hệ thống thước đo phương Tây đã trở thành chuẩn mực trên toàn thế giới thì việc tìm hiểu về thước cổ có khi bị coi là ngớ ngẩn, vô dụng nếu như ta không thực sự hiểu được hàm lượng văn hóa bên trong nó. Việc hiểu sai, hiểu thiếu đôi khi dẫn đến những hậu quả tai hại, đặc biệt trong công tác phục dựng, phỏng dựng văn vật cổ xưa.

Vào thời Nguyễn, nước ta có đến 4 loại thước khác nhau: thước đo vải (thước may/Phùng xích), thước đo ruộng (Điền xích), thước mộc (thước ta/Quan Mộc xích) và thước Tây (thước mét). Đôi khi, trong một cây thước có thể tích hợp hai đến nhiều loại thước khác nhau.

  • Thước vải/Phùng xích: Không rõ nguồn gốc của thước đo vải là từ đâu, chỉ biết rằng độ dài thước vải luôn luôn khác với các thước còn lại. Nhiều ý kiến cho rằng chính sự ràng buộc giữa thước với khổ vải truyền thống là nguyên nhân khiến thước vải rất ít thay đổi theo thời gian. Giá trị của một thước vải là 59,80cm vào thời Nguyễn. Theo các nghệ nhân cổ ở Huế, độ dài của thước vải có thể dao động từ 60-65cm và thước càng cổ thì có độ dài càng lớn.

 

  • Thước ruộng/Điền xích: Trước năm 1810, nhà Nguyễn sử dụng cây Điền xích từ thời chúa Nguyễn, và cây Trung Bình xích do nhà nước mới chế ra. Độ dài của hai loại thước này hiện vẫn chưa khảo được. Từ năm 1810 trở đi, nhà Nguyễn áp dụng  cây thước của nhà Lê, thước này có độ dài 47cm. Lúc này, diện tích một mẫu ruộng là 4.970m2*. Trên cột đình làng Văn Xá (Hương Trà, Thừa Thiên-Huế) vẫn còn khắc cây thước này, qua bao nhiêu lần trùng tu tôn tạo, giá trị của cây thước luôn là 47cm không hề suy chuyển.

 

Trong khi đó, Nam Kỳ đã chuyển sang sử dụng hệ thước mét kiểu Tây, còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ vẫn sử dụng loại thước nhà Lê. Năm 1897, toàn quyền Pháp Paul Doumer ra nghị định thay đổi giá trị một thước ruộng ở Bắc Kỳ xuống 40cm (thụt 7cm). Đây thực ra là thủ đoạn tăng diện tích ruộng “ảo” trên giấy tờ nhằm thu được nhiều thuế ruộng hơn khi diện tích một mẫu ruộng lúc này chỉ còn 3.600m2

 

  • Thước ta/Mộc xích: Đây là loại thước khá phức tạp, bao gồm nhiều hệ thước khác nhau, tiêu biểu là 3 hệ thước chính:

+ Thước đo độ dài/Kinh thước: dùng để do chiều dài cột, kèo, gian, chái, đường đi hoặc khoảng cách giữa các khu vực. Đầu thời Nguyễn, giá trị của một thước Kinh là 42,4-42,5cm. Sau nghị định của Paul Doumer, thước Kinh bị hợp nhất với thước ruộng, gọi chung là thước ta với giá trị bằng 40cm.

+ Thước nghề: là thước chuyên dùng cho thợ mộc, chia thành các loại : thước Đinh, thước Sàm, thước  Vuông, thước Nách… Giá trị của thước nghề thường kèm với thước Kinh để người thợ tiện sử dụng.

+ Thước tín ngưỡng/thước Lỗ Ban/ Chu Nguyên xích: là loại thước mà trên thân thước ghi các chữ chỉ điềm lành/dữ. Thước Lỗ Ban có ảnh hưởng lớn đến kết cấu kiến trúc, khoảng cách giữa các cột, kèo trong công trình. Thông thường, người thiết kế phải làm sao cho các số đo của công trình vào đúng vạch chỉ điềm lành, phúc đức. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể bắt gặp thước Lỗ Ban trong cây thước 7,5m do Đài Loan sản xuất, được bán rộng rãi trên thị trường Việt Nam.

 

*Giá trị 1 mẫu ruộng được tính bằng diện tích hình vuông có cạnh bằng 150 thước

 

Contact Me on Zalo