Ngay trong thời hiện đại, chuyện thi cử đỗ đạt vinh quy bái tổ vẫn là ước mơ của chung của mọi gia đình Việt Nam. Chúng ta hãy xem thử thời Nguyễn cống sinh thi Đình được trọng vọng như thế nào?
Vào khoảng 9 giờ sáng thì 23 người lính ngự vệ bưng 23 khay trà và trầu cau đặt ở chiếu mỗi cống sĩ. Ấm đựng nước trà Tàu là ấm Thế Đức, chén trà làm bằng bạc chạm rồng đặt trên một cái đĩa cũng bằng bạc chạm rồng. Khay thì sơn son thiếp vàng trông rất thanh nhã. Trầu cau được đặt trên một đĩa sứ Nhật Bản, trong đĩa có một miếng cau tươi, một miếng trầu quế têm cánh phượng. Khi đặt xong khay trà và trầu cau cạnh mỗi yên của mỗi cống sĩ, người lính ngự vệ nói: ”Thánh Thượng ban trà và trầu cho cống sĩ!”. Các cống sĩ liền đứng dậy hướng về phía nội điện (nơi Vua ở) khấu đầu năm lượt và miệng thì nói nhỏ: “Mông ân Thánh Thượng ban trà và trầu, kẻ hạ thần xin bái lãnh”. Các cống sĩ rót nước trà ra uống và ăn trầu. Khoảng 11 giờ, lính ngự vệ lại bưng một cái khay bằng gỗ trắc khảm xà cừ đến đặt ở cạnh yên mỗi cống sĩ. Trên khay có một con dao chuôi bạc, hai trái chuối ngự, một trái anh đào, một trái tuyết lê là sản phẩm của các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị. Các cống sĩ lại phải đứng lên làm lễ tạ ơn đức vua.
Đến khoảng 12 giờ rưỡi trưa thì lính ngự vệ đặt ở mỗi chiếu một mâm cơm và nói: ”Xin cống sĩ tạm ngừng tay viết để dùng cơm!”. Các cống sĩ lại đứng lên hướng về phía nội điện khấu đầu lễ tạ đức vua rồi ngồi xuống ăn cơm. Các thức ăn được đặt trên một mâm đồng nhỏ có chạm trổ hình long, ly, quy, phượng. Mâm có chân. Món yến sào được đựng trong một cái choé Giang Tây đậy kín, món tái bò được bày trên một đĩa sứ Giang Tây, rau thơm để ăn với tái bò, món chả Huế, món thịt gà xào hạnh nhân đều được đựng trên các đĩa sứ Nhật Bản, tương gừng được dựng trong một cái chén bịt bạc. Cơm gạo tám thơm còn nóng được đựng trong một liễn sứ Giang Tây. Bát ăn bằng sứ Giang Tây kiểu ngoạn ngọc và đũa thì bằng ngà bịt bạc.
Các cống sĩ ăn bữa cơm ngon do Đức Vua thiết đãi. Ăn xong, các cống sĩ rửa đĩa chén, liễn, choé, đũa vào chậu nước nóng mà lính ngự vệ đã bưng đặt cạnh chiếu. Tất cả đĩa, chén, liễn, choé, khay, đũa, dao, muỗng, ấm trà đều được các cống sĩ bỏ vào tráp sơn đen chạm rồng vàng để mang về quê vì theo tục lệ đã có từ xưa, tất cả các thứ Vua ban trong ngày thi Đình đều thuộc quyền sở hữu của cống sĩ. Mâm đồng chạm trổ vì không bỏ vào tráp được nên khi thi xong các cống sĩ cũng xách tay mang về.
Bài được chép nguyên văn từ sách “Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện dưới triều Nguyễn” của cụ Đặng Hữu Thụ, xuất bản ở nước ngoài.

